Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ô tặc cốt giúp giảm đau, cầm máu

Ô tặc cốt chứa muối calci dưới thể carbonat, phosphat, sulfat), các chất hữu cơ và chất keo. Theo Đông y, mai mực vị mặn, tính ôn, vào kinh can và thận. Có tác dụng liễm huyết cầm máu, cố kinh chỉ đới, còn có tác dụng chế ngự chua, hút thấp. Vị thuốc này nghiền thành bột uống có tác dụng tốt hơn là dùng thuốc sắc.

Ô tặc cốt được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Liễm huyết cầm máu:

Bài 1: Thang cố xung: ô tặc cốt 16g, xuyến thảo 8g, tông thán 6g, ngũ bội 6g, long cốt 12g, mẫu lệ 12g, địa du 12g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, bạch thược 12g, cam thảo 4g. Sắc uống. Dùng khi đại tiểu tiện ra máu, trĩ ra máu, phụ nữ băng huyết, chảy máu phổi, dạ dày.

Bài 2: ô tặc cốt, phấn hoa tùng, liều lượng bằng nhau. Nghiền riêng từng vị, rây, trộn đều, thêm ít băng phiến, rắc lên vết thương, ấn hay buộc chặt. Trị chảy máu do chấn thương.

Giảm chua, giảm đau: Dùng khi loét dạ dày, tá tràng, ợ chua dạ dày quá nhiều, đau dạ dày.

Bài 1: ô tặc cốt 8 phần, diên hồ sách 1 phần, khô phàn 4 phần. Các vị nghiền chung thành bột mịn, thêm 6 phần mật làm hoàn. Ngày 3 lần, mỗi lần 12g, uống sau bữa ăn.

Bài 2 - Bột ô bối: ô tặc cốt 85%, bối mẫu 15%. Các vị nghiền thành thuốc bột. Mỗi lần uống 4g, uống trước bữa ăn.

Thu thấp, thu mụn nhọt:

Bài 1: ô tặc cốt, liều lượng vừa đủ, nghiền thành bột mịn, đắp vào chỗ đau (người có hoả độc nhiều thì thêm hoàng bá, hoàng liên). Dùng khi loét lâu không lành.

Bài 2: ô tặc cốt, băng phiến. Các vị nghiền thành bột thật mịn. Chấm lên khoé mắt. Trị kéo màng.

Cố kinh chỉ đới:

Bài 1: ô tặc cốt 63g, than quán chúng 30g, tam thất 8g. Các vị nghiền chung thành bột mịn. Mỗi lần 12g, chiêu với nước đun sôi. Trị bạch đới.

Bài 2: ô tặc cốt 16g, lộc giác sương 12g, phục linh 12g, bạch truật 12g, bạch chỉ 12g, bạch thược 12g, bạch vĩ 12g, mẫu lệ 12g, sơn dược 16g. Các vị nghiền thành bột, làm hoàn. Mỗi lần 8g, ngày uống 8 - 12g hoặc sắc uống. Trị xích bạch đới.

Kiêng kỵ: Người âm hư nhiệt nhiều không được dùng ô tặc cốt.

Uống thuốc quá lâu, uống nhiều dễ bị táo bón, nên dùng thêm thuốc nhuận tràng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Cách trị bệnh tiêu chảy đơn giản mà hiệu quả

Gừng tươi nướng: Khi bị tiêu chảy, nôn do ngộ độc thức ăn, chỉ cần lấy một củ gừng, rửa sạch, nướng lên. Sau đó, cạo vỏ gừng, rửa lại một lần nữa cho sạch vết cháy. Cắt gừng thành từng miếng bỏ vào cốc hãm uống như trà có tác dụng ôn ấm tỳ vị, giúp cầm tiêu chảy rất tốt.

Nước sắc vỏ rụt, vỏ quýt: Dùng trong trường hợp tiêu chảy doăn uống đồ sống lạnh, tổn thương tỳ vị, tiêu hóa không được: Vỏ rụt (sao vàng) 40g, vỏ quýt (sao thơm) 20g, vỏ vối (sao vàng) 20g, củ sả (sao vàng) 20g, củ gấu (giã giập sao vàng) 40g. Các vị đều sấy khô tán nhỏ rây mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Người lớn mỗi lần uống từ 6-8g với nước đun sôi để nguội. Trẻ em mỗi lần uống từ 2-6g hòa với nước sôi, hãm một lúc, gạn lấy nước uống.

Nước sắc lá ổi: Dùng trong trường hợp bị tiêu chảy do lạnh: Búp ổi 20g sao qua, vỏ quýt khô 10g, gừng nướng chín 10g. Tất cả cắt nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi 20g, vỏ măng cụt 20g, gừng nướng 10g, gạo rang 20g sắc kỹ lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi 20g, củ sả 16g, củ riềng 8g. Thái nhỏ, sao qua, sắc lấy nước đặc uống.

Cháo củ kiệu, cháo chim bồ câu: Dùng cho người bị tiêu chảy do tỳ vị hư hàn: Cháo củ kiệu:Củ kiệu 50g, rửa sạch thái lát 50g, thịt ức gà 50g thêm gia vị, xào chín, cho vào nồi cháo đã nấu nhừ, ăn khi còn nóng. Cháo chim bồ câu: Chim bồ câu non 1 con làm sạch, gạo nếp 100g, thêm gia vị rau mùi tàu, hành hoa, gừng tươi gia vị vừa đủ, nấu cháo, ăn nóng.

Lá mơ trứng gà: Nếu bị đau bụng, tiêu chảy phân nhầy do lỵ dùng lá mơ lông tươi 50g thái nhỏ, trộn trứng gà 1 quả thêm gia vị hành tiêu vừa đủ chưng hấp chín ăn.

Súp cà rốt: Dùng tốt cho trẻ đang bị tiêu chảy: Cà rốt tươi 500g, rửa sạch, gọt vỏ, cắt khoanh mỏng, đun nhỏ lửa với 2 lít nước trong 1 giờ, để cho cạn còn 1 lít, vớt cà rốt ra, đem nghiền kỹ, lọc qua vải thưa, loại bỏ bã, cho thêm 3g muối rồi đun sôi lại. Nấu cháo hoặc súp với thịt lợn nạc hoặc thịt gà, nấu nhừ và loãng hơn bình thường, cho thêm khoảng 100ml súp cà rốt. Cho trẻ ăn ít một, ăn nhiều bữa (6-8 bữa một ngày). Khi trẻ bớt tiêu chảy, cho giảm bớt lượng súp cà rốt, tăng dần lượng cháo đến khi khỏi hẳn.

BS. Thu Vân

Đông y chữa bệnh thiếu máu do suy tủy

Thiếu máu do suy tủy là một loại bệnh do chức năng tạo máu của tủy xương suy giảm. Sự suy giảm chức năng sinh máu này có thể ảnh hưởng đến số lượng máu của một dòng hoặc của cả 3 dòng. Bệnh này trên lâm sàng thường có triệu chứng thiếu máu tiến triển, chảy máu và nhiễm khuẩn nhiều lần tái phát. Y học hiện đại cho là suy tủy xương được coi như xảy ra do tổn thương tế bào gốc, hoặc do tổn thương các vi mô lân cận tạo thành một môi trường không thích hợp cho sự sinh sản và trưởng thành của các tế bào máu. Tuy nhiên có hơn một nửa bệnh nhân là nguyên phát, chỉ có một số ít là thứ phát, từ một số bệnh nhiễm khuẩn, virút nặng do độc tố ức chế chức năng tạo máu của tủy xương. Bệnh này thuộc phạm trù các chứng “hư lao”, “huyết chứng” trong Đông y.

Bệnh suy tủy có thể chia các thể bệnh điều trị như sau:

Khí huyết lưỡng hư

Triệu chứng khởi bệnh từ từ, sắc mặt tái nhợt, váng đầu, khó thở mệt mỏi, chán ăn tiêu phân lỏng, chất lưỡi nhợt rêu mỏng, mạch hư huyền. Thỉnh thoảng có trường hợp có chảy máu ở da cơ. Phương pháp chữa: ích khí dưỡng huyết.

Bài thuốc: Bát trân thang gia giảm: nhân sâm 3g (nếu dùng đảng sâm 12g), thục địa 16g; kỷ tử, đương quy, bạch thược, bạch truật, bạch linh đều 12g; xuyên khung, cam thảo đều 6g, đại táo 15g. Nếu tâm hư hồi hộp thêm ngũ vị tử 6g, long cốt 30g (sắc trước); xuất huyết cơ da thêm tiên hạc thảo 15g, hạn liên thảo 12g.

suy tuy

Gan thận âm hư

Triệu chứng sắc mặt tái nhợt, hoa mắt chóng mặt, ù tai, bứt rứt mất ngủ, khung đùi đau mỏi, họng khô miệng táo, chảy máu mũi, máu răng thường thấy. Đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền tế sác. Phương pháp chữa: tư dưỡng can thận.

Bài thuốc: Đại bổ nguyên tiễn gia giảm: nhân sâm 3g, thục địa 16g; sơn thù, đương quy, hà thủ ô, chích quy bản đều 9g; đỗ trọng, kỷ tử, bạch thược, hoài sơn đều 12g; cam thảo 6g. Nếu xuất huyết nhiều bỏ đương quy, đỗ trọng, thêm hạn liên thảo, nữ trinh tử, tiên hạc thảo đều 12g, bột sâm tam thất 5g (hòa thuốc sắc uống). Chảy máu cam thêm bạch mao căn, trắc bá diệp đều 12g; sốt thêm thanh hao, địa cốt bì, đơn bì đều 12g.

Tỳ thận dương hư

Triệu chứng sắc mặt tái nhợt hoặc vàng xạm, môi móng trắng bệch, hoa mắt chóng mặt tinh thần mệt mỏi, hồi hộp ù tai, chán ăn, tiêu phân lỏng, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưỡi bệu nhợt rêu trắng, mạch trầm tế. Phương pháp chữa: ôn thận bổ tỳ, ích khí dưỡng huyết.

Bài thuốc: Hữu quy hoàn gia giảm: đảng sâm, hoài sơn, hoàng kỳ, đại táo đều 15g, bạch truật, phục linh, thục địa, thỏ ty tử, kỷ tử, đỗ trọng đều 12g, sơn thù, lộc giác giao, đương quy, thục phụ tử đều 9g, nhục quế 2g, cam thảo 6g. Nếu sợ lạnh nhiều, tiêu lỏng thêm bổ cốt chi 9g, tiên linh tỳ 12g.

m dương lưỡng hư

Triệu chứng lòng bàn chân tay nóng, ra mồ hôi trộm miệng khát là chứng âm hư, lại sợ lạnh, sắc mặt tái, chân tay phù, tiêu lỏng là biểu hiện của chứng dương hư. Lưỡi bệu khô, mạch tế sác vô lực. Phương pháp chữa: bổ âm ích dương.

Bài thuốc: Hữu quy hoàn hợp tả quy hoàn gia giảm: thục địa, sơn thù, kỷ tử, thỏ ty tử, ngưu tất, đương quy đều 9g, hoài sơn, lộc giác phiến, đỗ trọng, quy bản đều 12g. Nếu thiên về âm hư thêm hà thủ ô 12g, nhục thung dung 8g; thiên về dương hư thêm nhục quế 2g, phụ tử 9g.

suy tuyCây thổ phục linh

Nhiệt độc dinh huyết

Triệu chứng sốt không giảm, sắc mặt tái nhợt, đau đầu chóng mặt, chảy máu cam hoặc nôn ra máu, tiêu phân có máu,ban xuất huyết, phụ nữ kinh nguyệt kéo dài. Lưỡi tái nhợt, rêu vàng táo, mạch hư đại sác. Phương pháp chữa: lương huyết giải độc.

Bài thuốc: Tê giác địa hoàng thang gia giảm: tây dương sâm, xích thược, liên kiều đều 9g; sinh địa, đơn bì, đại thanh diệp đều 15g; bột sừng trâu 20g (hòa uống); bột sâm tam thất 5g (hòa uống). Trường hợp bệnh nhân sốt cao mê sảng, dùng tử tuyết đơn 4g/viên hoặc cho uống thuốc tây hạ sốt.

LY.DS. BÀNG CẨM

Bài thuốc chữa bầm tím do ngã

Bài 1: Bột cúc tần 800g, bột quế chi 160g, bột đại hoàng 80g, sáp ong 200g, dầu thầu dầu 2 lít. Các vị trên tán nhỏ, rây thành bột mịn, đun sôi dầu thầu dầu, cho sáp ong vào, đánh tan, rồi tắt lửa, cho bột thuốc vào đánh nhuyễn làm thành cao, đắp vào chỗ tổn thương có tác dụng lưu thông khí huyết, tiêu viêm, giảm đau. Nếu có điều kiện nên làm cao thuốc này để dùng dần khi chẳng may bị ngã có tổn thương bầm tím, sưng đau.

Quế chi.

Bài 2: Củ nghệ vàng già 100g, vỏ cây gạo 100g. Hai vị bỏ vỏ, rửa sạch, giã nát, xào với rượu và giấm thanh rồi chườm hoặc đắp vào vết thương khi còn nóng.

Bài 3: Lá móng tay, ngải cứu, huyết giác, mỗi vị 12g; tô mộc 10g; nghệ 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 4: Lá hẹ tươi 50-100g rửa sạch, giã nát, trộn với 10g đường đỏ rồi đắp vào vết thương, mỗi ngày một lần.

Bài 5: Ngải cứu tươi, nghệ vàng, lá cúc tần tươi, mỗi thứ 1 nắm, rửa sạch, giã nhuyễn rồi băng đắp vào vết thương.

Ngải cứu.

Bài 6: Lá mua rửa sạch, giã nhỏ, xào với giấm, đắp lên chỗ tổn thương khi còn ấm, mỗi ngày thay 1 lần.

Bài 7: Huyết giác, dây đau xương, vỏ bông gạo, rau dừa nước mỗi vị 40g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 3-5 ngày.

Bài 8: Củ nghệ tươi giã nát cùng phèn chua đem xoa bóp lên vết thương, vết bầm tím do ngã rất có hiệu quả.

Nghệ vàng.

Bài 9: Lá ngải cứu 30g, củ nghệ 100g, búp cây ớt 10 ngọn, rượu trắng 30ml, giấm thanh 10ml. Nghệ, búp ớt và ngải cứu rửa sạch, giã nhỏ, tẩm rượu và giấm, xào nóng, gói vào gạc, chườm chỗ đau rồi băng lại. Có thể xào đi xào lại nhiều lần trong ngày, chườm vào vết thương khi còn nóng.

Bài 10:Chữa chấn thương bầm tím, đau nhức người do ngã: Dùng rễ cây cơm cháy 20g, sắc với 500ml nước và 200ml rượu, đun nhỏ lửa còn 200ml, lọc bỏ bã, thêm 30g đường trắng trộn đều uống. Dùng mỗi liệu trình 5 ngày. Ngoài ra, dùng rễ cây cơm cháy 20g, giã nát, cho thêm ít rượu, trộn đều, sao nóng, đắp lên những chỗ sưng rồi dùng băng cố định lại, sau 3 giờ  thay thuốc, ngày đắp 2 lần.

BS. Thanh Xuân

Chữa chứng can hỏa phạm phế ở người cao tuổi

Chứng can hỏa phạm phế trong Đông y gọi là “Mộc hỏa hình kim” (mộc thuộc can (gan), kim thuộc phế). Là một loại bệnh do tình chí uất kết ở người cao tuổi. Khí uất hỏa hun đốt ở phế âm, hoặc có khi do tà nhiệt uất kết ở kinh can phạm lên phế, làm phế mất sự túc giáng mà sinh bệnh.

Tang bạch bì.

Chứng can hỏa phạm phế thường phát sinh ở người cao tuổi (cả nam và nữ) vốn có tính tình nóng nảy, dễ cáu giận, bởi vì khi cáu giận là do khí của can nghịch lên, khi khí của can quá mạnh thì sinh ra hỏa, hỏa khí hòa hợp với nhau nghịch lên mà phạm phế kim. Trong quá trình diễn biến bệnh tật thường do mộc hỏa hun đốt xâm phạm phế và lấn át tỳ, làm hao khí ở phế và tổn tân dịch, từ đó mà hình thành chứng khí âm đều hư. Tất cả do can khí nghịch lên mà sinh ra chứng khái thấu (ho) đờm dính khó khạc ra, hoặc ho khan ít đờm, miệng khô họng ráo, khản tiếng, nóng từng cơn về chiều, lòng bàn tay, bàn chân nóng, ra mồ hôi trộm, cơ thể ngày càng gầy, lưỡi tróc từng mảng.

Nếu bệnh nhân ho khan: từng cơn, luôn có cảm giác khí trong ngực nghịch lên mà ho khan, khi ho đau ran ngực và hai mạng sườn, khạc ra đờm vàng dính nhưng ít, mặt đỏ họng khô khát nước, hay cáu giận, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng ít tân dịch, mạch huyền sác.

Bài thuốc: sa sâm 16g; bạch tật lê, sa uyển tật lê, đại giả thạch, thạch hộc, hạnh nhân mỗi vị 12g; cúc hoa, bối mẫu mỗi vị 8g; mạch môn 6g; tang diệp, quất hồng bì, toàn phúc hoa mỗi vị 4g. Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, trước khi ăn.

Nếu bệnh nhân ho đờm có lẫn máu, hoặc nôn ra máu tươi, ngực sườn đau tức hay giận dữ, đại tiện phân khô kết, nước tiểu vàng đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.

Bài thuốc: Tả bạch tán phối hợp với Long đởm tả can thang: thanh đại, hải cáp xác 24g, cánh mễ 20g, tang bạch bì, địa cốt bì 16g, long đởm thảo, sinh địa, xuyên quy, xa tiền tử 12g, mộc thông, trạch tả 8g, sài hồ 6g, cam thảo 4g. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

TTND. BS. Nguyễn Xuân Hướng

Bài thuốc dân gian chữa ho khan từ cây bạch truật

Theo y học cổ truyền, ho khan, ho khàn tiếng thuộc chứng phế âm hư. Người bệnh có biểu hiện ho khan, có khi ngứa họng, mất tiếng, ho ít đờm, đờm vàng, miệng khô, đại tiện táo, mạch tế sác. Phép trị chủ yếu bổ âm, mát phế, cầm ho… Dưới đây là một số bài thuốc trị ho khan tuỳ giai đoạn bệnh.

Khi bệnh mới phát, dùng bài Tả bạch tán “Tiền ất phương” gia giảm gồm: tang bạch bì 16g, xuyên bối mẫu 12g, cát cánh 12g, mạch môn 14g, phục linh 14g, hoàng cầm 10g, địa cốt bì 14g, tri mẫu 4g, bạc hà 6g, cam thảo 3g, đại táo 8g, sinh khương 6g. Sắc uống, trẻ em dùng 1/2 hoặc 1/3 liều trên, có thể cho ít mật ong cho dễ uống. Tác dụng: thanh tả phế nhiệt, bình suyễn, chỉ khái… Trị chứng ho khan, ho cơn, ho không nghe tiếng đàm, đại tiện táo, tiểu vàng, mặt đỏ… Gia giảm: nếu ho đàm nhiều, gia xuyên bối mẫu 12g; nếu sốt, ho khan, gia tang diệp 14g, ngưu bàng tử 12g; đại tiện táo khó, gia hạnh nhân 14g.

Rễ củ khô của cây bạch truật.

Lưu ý: trẻ ho suyễn, ho đàm nhiều loãng, tỳ phế hư hàn bên trong không nên dùng.

Nếu uống bài trên mà đại tiện vẫn táo kết, vẫn còn sốt, đau họng: nên phối hợp bài Lương cách tán “Cục phương” gia giảm gồm: tang bạch bì 14g, cát cánh 10g, hoàng cầm 12g, đại hoàng 4g, liên kiều 14g, hạnh nhân 14g, cam thảo 4g, chi tử 10g, bạc hà 12g, trúc diệp 14g, cát cánh 10g, tang diệp 14g. Sắc uống. Trẻ em dùng liều 1/2 hoặc 1/3, có thể cho ít mật ong cho dễ uống… Tác dụng: thanh giải tích nhiệt ở thượng tiêu và trung tiêu… Trị ho khan đau họng, táo bón, nước tiểu đỏ…

Lưu ý: không dùng cho người ho đàm loãng, sốt ít, lạnh nhiều.

Nếu hết sốt, đại tiện lỏng, ăn ít, bụng đầy, nên phối hợp bài Sâm linh bạch truật tán “Cục phương” gia giảm gồm: đảng sâm 12g, bạch truật 14g, phục linh 14g, biển đậu 16g, ý dĩ 16g, hoài sơn 6g, liên nhục 14g, trần bì 12g, sa nhân 6g, cát cánh 10g, chích thảo 4g, sinh khương 6g. Sắc uống. Trẻ em dùng liều 1/2 hoặc 1/3 người lớn… Tác dụng: bổ khí, kiện tỳ, thẩm thấp, hòa vị, trị tỳ vị hư. Trị ho đàm lâu ngày, ăn ít, đại tiện lỏng, cơ thể mệt mỏi thuộc thể tỳ phế khí hư. Gia giảm: có ho sốt, gia hoàng cầm 10g, tang bạch bì 12g…; miệng khô, gia mạch môn 12g…; ho đàm nhiều, gia xuyên bối mẫu 12g.

Lương y: Minh Phúc

Sò huyết chữa suy nhược

Sò huyết còn gọi là sò trứng hay sò tròn. Sò huyết chứa nhiều chất dinh dưỡng với nguồn chất đạm phong phú, ít mỡ, nhiều chất khoáng, có tác dụng tốt với bệnh tăng huyết áp, suy nhược cơ thể, lao phổi. Thịt sò và vỏ sò đều được y học cổ truyền dùng làm thuốc. Vỏ sò đã lấy hết thịt, rửa sạch, đập vụn cho vào nồi đất trát kín, nung đến khi đỏ hồng. Lấy ra để nguội, tán nhỏ, rây bột mịn hoặc nhúng ngay vỏ sò đang hồng vào giấm với tỷ lệ 1kg vỏ sò với 100ml giấm rồi tán bột mịn.

Theo đông y, sò huyết có vị ngọt, mặn, tính ấm có tác dụng bổ huyết, ôn trung, kiện vị, chữa chứng huyết hư, thiếu máu, viêm loét dạ dày - tá tràng, tiêu hóa kém.

Sò huyết chữa suy nhược cơ thể.

Chữa cơ thể suy nhược, lao phổi: thịt sò huyết 100g, nấu chín hoặc phối hợp với lá hẹ 100g, ninh nhừ, ăn làm 2 lần trong ngày.

Chữa kinh nguyệt ra nhiều:thịt sò huyết 100g nấu với thịt lợn 50g, ăn trước khi hành kinh.

Chữa tăng huyết áp, béo phì:thịt sò huyết 100g, thảo quyết minh 50g, nấu chín ăn 1 bữa trong ngày.

Chữa đau dạ dày, ợ chua: vỏ sò huyết tán bột. Ngày uống từ 12 - 20g dưới dạng nước sắc, uống trước bữa ăn..

Chữa đại tiện ra máu: bột vỏ sò ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-15g, uống với nước ấm.

Chữa cam răng:bột vỏ sò uống ngày 3 lần sáng, trưa, tối, mỗi lần 3-5g .

Chữa tụ máu, bầm tím:bột vỏ sò ngày uống 2 lần (sáng và tối), mỗi lần 10-15g, uống với nước ấm, có thể hòa chút rượu trắng uống.

Thuốc bổ dương: Dùng một trong số món ăn bài thuốc sau:

Cháo sò huyết: gạo tẻ 200g, sò huyết tươi 500g, trứng vịt muối 1 quả, gừng, gia vị, hành, hạt tiêu. Sò huyết rửa sạch bùn đất, đun sôi nước rồi thả vào, ngâm 5 phút vớt ra, cạy lấy thịt. Sau đó xào sò huyết với dầu, hành gia vị cho thơm. Gạo tẻ nấu nhừ thành cháo. Khi cháo chín, cho trứng muối và sò huyết vào khuấy đều là dùng được.

Sò huyết xào mì: mì (nui) 100g, sò huyết 100g, cà chua, nấm rơm, hành tây, gia vị vừa đủ. Thịt sò huyết sốt cùng với cà chua, nấm rơm thái nhỏ. Phi thơm tỏi rồi cho mì (nui) đã luộc chín vào xào. Trút mì ra đĩa, cho hỗn hợp sò huyết xào nấm, cà chua lên trên, trộn đều. Ăn nóng.

Sò huyết sốt me: sò huyết 1kg, me chín 300g, đường, muối, tỏi, gia vị vừa đủ. Sò huyết rửa sạch, để ráo nước. Me chín bỏ hạt. Sò huyết hấp, lấy thịt. Phi hành tỏi rồi cho sò huyết, me chín xào to lửa, nêm gia vị, ăn nóng.

BS. Lê Thị Hương

Dược thiện cho người tăng huyết áp

Bài 1: Mộc nhĩ trắng 10g, mộc nhĩ đen 10g, gạo tẻ 50-100g, đường phèn vừa đủ. Cách làm: Ngâm mộc nhĩ cho nở ra, bỏ núm ở đế cuống, thái thà...